Skip Ribbon Commands Skip to main content
Tìm kiếm
 

 Liên Kết Website

 

 Lượt truy cập:

 

 Nội dung bản tin

 
BÀI TUYÊN TRUYỀN PHÒNG, CHỐNG BỆNH BẠCH HẦU Cập nhật: 07-08-2020 12:17
Tình hình bệnh dịch bạch hầu tại một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyện như Đắc Nông, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng và Bình Phước đang diễn biến phức tạp với số ca mắc bệnh có chiều hướng gia tăng. Trước tình hình đó, để tăng cường các hoạt động truyền thông phòng, chống dịch bệnh, chủ động, không để dịch bệnh bạch hầu xẩy ra trên địa bàn huyện Định Quán, nhằm tuyên truyền và hướng dẫn nhân dân nắm được những kiến thức cơ bản về các biểu hiện của bệnh và cách phòng ngừa bệnh dịch bạch hầu hiệu quả.
 

fgsdgfdgfd.png

1.  Bệnh bạch hầu là gì?

Bệnh bạch cầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh bạch hầu dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Các độc tố do vi khuẩn gây bệnh gây liệt cơ, viêm cơ tim, thậm chí dẫn đến tử vong với tỷ lệ khá cao.

 1.  Đường lây truyền bệnh.

Bệnh bạch hầu là một bệnh nhiễm trùng nhiễm độc do trực khuẩn bạch hầu gây ra. Vi khuẩn tiết ra ngoại độc tố gây tổn thương nhiều tổ chức và cơ quan của cơ thể.
Bệnh có thể lây truyền truyền trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua đường hô hấp hoặc gián tiếp qua đồ chơi, vật dụng. Vi khuẩn bạch hầu có thể xâm nhập qua da tổn thương gây bạch hầu da. Sau khoảng 2 tuần nhiễm vi khuẩn, bệnh nhân có thể gây lây nhiễm cho người khác.

2.  Những biểu hiện của bệnh bạch hầu.

Bệnh bạch hầu thường gặp với những triệu chứng điển hình như sốt nhẹ, đau họng, ho, khàn tiếng, chán ăn. Sau 2-3 ngày, xuất hiện giả mạc mặt sau hoặc hai bên thành họng, có màu trắng ngà, xám hoặc đen. Giả mạc dai, dính, dễ chảy máu. Đây là dấu hiệu quan trọng nhất để phát hiện bệnh. Bệnh nhân có thể có dấu hiệu khó thở, khó nuốt. Bệnh có thể qua khỏi hoặc trở nên trầm trọng và tử vong trong vòng 6-10 ngày. Trường hợp bệnh nặng không có biểu hiện sốt cao nhưng có dấu hiệu sưng to cổ, khàn tiếng, khó thở, rối loạn nhịp tim, liệt.

Người mắc bệnh bạch hầu khi không được phát hiện và điều trị kịp thời để sẽ dẫn đến viêm cơ tim, tổn thương hệ thần kinh dẫn truyền cơ tim, tử vong do đột ngột trụy tim mạch. Một số bệnh nhân bị viêm cơ tim và van tim, sau nhiều năm gây ra bệnh tim mãn và suy tim. Ngoài ra, bệnh cũng có thể dẫn đến thoái hóa thận, hoại tử ống thận, chảy máu lớp tủy và vỏ thượng thận.

Các triệu chứng bệnh bạch hầu chủ yếu là gây viêm họng. Vi khuẩn bạch hầu sẽ tạo lớp màng giả màu trắng do các lớp tế bào bị viêm tạo ra lớp màng bám vào trong vòm họng. Nếu không điều trị, màng bám sẽ lan ra lấp đường hô hấp gây ngạt thở cho người bệnh. Vi khuẩn bạch hầu gây ra viêm họng, nóng, sốt và nguy hiểm là do độc tố của vi khuẩn. Độc tố đó sẽ theo máu và tác động lên các cơ quan chính của cơ thể, có thể gây ra viêm tim, viêm thận hoặc tác dụng lên hệ thần kinh làm liệt tay, liệt chân, mắt lé, giọng nói có thể thay đổi do bị ngọng thanh quản. Vi khuẩn bạch hầu sẽ tạo lớp màng giả màu trắng do các lớp tế bào bị viêm tạo ra lớp màng bám vào trong vòm họng.

4. Cách phòng tránh

Cách phòng bệnh tốt nhất là nên tiêm vaccine ngừa bệnh bạch hầu cho trẻ đầu đủ đúng thời gian quy định. Trẻ em phải được tiêm vaccine 3 lần khi đủ 2 tháng tuổi, mỗi lần cách nhau 1 tháng (gồm vaccine 5 trong 1 hoặc 6 trong 1), sau đó nhắc lại một lần nữa vào lúc 18 tháng tại các trạm y tế xã, thị trấn trong chương trình tiêm chủng mở rộng hoặc tại các địa điểm tiêm ngừa dịch vụ được cấp phép, định kỳ tiêm nhắc lại khi trẻ đủ 4 tuổi và 11 tuổi.

Sau khi phát hiện bệnh, để ngừa các triệu chứng độc tố của vi khuẩn thì người bệnh sẽ được tiêm kháng độc tố bạch hầu (Serum Anti Diphtheriae- SAD) để trung hòa độc tố của vi khuẩn, ngăn ngừa độc tố tác động lên tim, thận và các hệ thần kinh khác. Sau đó người bệnh sẽ được sử dụng kháng sinh điều trị theo đúng phác đồ.

Đối với người nhiễm bệnh bạch hầu, cần cách ly bệnh nhân ít nhất 2 ngày sau điều trị kháng sinh thích hợp và đeo khẩu trang khi tiếp xúc. Ngoài ra cần vệ sinh phòng ở, đồ dùng cá nhân, đồ chơi… bằng dung dịch sát khuẩn. Người tiếp xúc với bệnh nhân cần được đeo khẩu trang, găng tay… và sử dụng các thuốc sát trùng, sát khuẩn để khử khuẩn sau mỗi lần tiếp xúc.

Khi trong gia đình có trẻ em và người lớn bị viêm họng hoặc có các triệu chứng viêm đường hô hấp trên các gia đình cần đưa ngay người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất để được khám và điều trị kịp thời và có hướng cách ly phù hợp tránh lây lan ra cộng đồng.

 

Bs Dương Văn Hạnh

 

In nội dung
Các tin đã đăng ngày:
Select a date from the calendar.