Skip Ribbon Commands Skip to main content
Tìm kiếm
 

 Liên Kết Website

 

 Lượt truy cập:

 

 Nội dung bản tin

 
CẢNH GIÁC VỚI BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT Cập nhật: 15-06-2020 12:21
Theo Bộ Y tế, hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm của Việt Nam đã ghi nhận 01 trường hợp mắc bệnh do virus Zika là nam, 25 tuổi, sống ở phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Bệnh do virus Zika là bệnh có chung véc tơ truyền với sốt xuất huyết vẫn ghi nhận rải rác tại một số tỉnh, thành phố phía Nam trong các năm gần đây, kể từ khi ghi nhận trường hợp bệnh do virus Zika đầu tiên vào tháng 3/2016 tại Khánh Hòa. Đến nay, cả nước đã ghi nhận 265 trường hợp mắc, số mắc tập trung chủ yếu khu vực phía Nam, một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên.
 

jhjhgkjhkhjk.png

Từ đầu năm 2020 đến nay, cả nước đã ghi nhận 26.857 trường hợp mắc sốt xuất huyết tại 58 tỉnh, thành phố, 03 trường hợp tử vong tại Bình Định, Bình Phước và Tây Ninh. Những tuần gần đây, số ca mắc có xu hướng gia tăng tại các tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh.

Chu kỳ của sốt xuất huyết dengue là từ 2-4 năm thì có 1 đợt dịch bệnh. Tại Việt Nam. Hiện đã bắt đầu vào mùa mưa, thời tiết thuận lợi cho muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết và bệnh do virus Zika phát triển mạnh, đỉnh dịch sốt xuất huyết sẽ rơi vào cuối tháng 6, đầu tháng 7 và dịch sẽ bùng phát cao nhất vào cuối tháng 8 đầu tháng 9.

1. Định nghĩa sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virut Dengue gây nên bênh lây theo đường máu, trung gian truyền bệnh là muỗi Aedes aegypti. Bệnh có biểu hiện lâm sàng chủ yếu là sốt cấp diễn và xuất huyết với nhiều dạng khác, nhưng thể nặng có sốc do giảm khối lượng máu lưu hành.

Bệnh hiện nay chưa có thuốc đặc trị đặc hiệu.

Bệnh sốt xuất huyết thường bùng phát vào mùa mưa tại những vùng có vệ sinh môi trường kém, nhiều ao tù, nước đọng. Đây là môi trường thuận lợi cho muỗi sinh sản và đi hút máu người, gây lây nhiễm virus Dengue; xuất hiện vào khoảng thời gian trong và ngay sau mùa mưa ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới như châu Phi, Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, Trung đông, khu vực Caribê, Trung Mỹ, Nam Mỹ, Châu Úc và Tây Nam Thái Bình Dương.

Trước đây, sốt xuất huyết thường gặp ở trẻ em; nhưng hiện nay, rất nhiều người lớn cũng mắc bệnh và tỷ lệ tử vong khá cao.

Bệnh sốt xuất huyết dạng nhẹ sẽ gây sốt cao, phát ban, đau cơ và khớp, có thể tự khỏi sau một tuần. Bệnh thể nặng có thể gây chảy máu nặng, giảm huyết áp đột ngột (sốc) và tử vong.

2. Nguyên nhân gây bệnh sốt xuất huyết

Bệnh sốt xuất huyết do một loại virus Dengue gây ra. Virus Dengue gây bệnh sốt xuất huyết ủ bệnh trong cơ thể muỗi khoảng 8 đến 11 ngày, trong khoảng thời gian này, nếu bị muỗi Aedes đốt có thể lây truyền virus Dengue từ người bệnh sang người khỏe mạnh. Thời gian ủ bệnh trung bình từ 1 – 2 tuần, bệnh nhân có biểu hiện sốt cao, đau mỏi người, đau đầu, nhức hốc mắt. Ngày thứ 5 mắc bệnh, bệnh nhân có thể bị xuất huyết, cô đặc máu, tụt huyết áp có thể dẫn tới tử vong.

Muỗi Aedes aegypti hoạt động ban ngày, đặc biệt chỉ có muỗi cái mới có thể đốt người và truyền bệnh. Virus Dengue có bốn type gây bệnh sốt xuất huyết, được gọi là virus DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Loài muỗi truyền bệnh có tên là Aedes aegypti hoặc muỗi Aedes albopictus, chúng có thể đưa virus gây bệnh sốt xuất huyết vào máu của bệnh nhân bằng cách chích đốt người bệnh.

3. Triệu chứng bệnh sốt xuất huyết

Ở bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue hai rối loạn thành mạch tăng tính thấm và rối loạn đông máu tác động lẫn nhau dẫn đến các triệu chứng lâm sàng nặng của bệnh là sốc và xuất huyết.

- Thành mạch tăng tính thấm, dịch từ trong lòng mạch thoát ra ngoài gian bào, hậu quả là giảm khối lượng máu lưu hành, máu cô và sốc. Theo Guyton khi thể tích tuần hoàn mất đi 10-15% cơ thể còn bù được, mất 20-30% sốc xảy ra, mất 35- 40% huyết áp bằng 0.

- Rối loạn đông máu trong sốt xuất huyết Dengue là do: thành mạch bị tổn thương; Tiểu cầu giảm; các yếu tố đông máu giảm do bị tiêu thụ vào quá trình tăng đông.

3.1. Sốt xuất huyết cổ điển (thể nhẹ)

Những người lần đầu tiên mắc bệnh bị loại sốt xuất huyết này vì họ chưa có miễn dịch với bệnh. 

Đây là dạng có biểu hiện các triệu chứng điển hình và không có biến chứng.

Bệnh sốt xuất huyết thường bắt đầu với triệu chứng sốt cao, có thể lên đến 40,5oC và sẽ kéo dài trong vòng 4-7 ngày tính từ sau khi bị truyền bệnh bởi muỗi. Ngoài ra, còn có các triệu chứng như:

Nhức đầu nghiêm trọng.

Đau phía sau mắt; đau khớp và cơ.

Có thể buồn nôn và ói mửa.

Phát ban (tử ban). Các ban sốt xuất huyết có thể xuất hiện trên cơ thể 3-4 ngày sau khi bắt đầu sốt và sau đó thuyên giảm sau 1-2 ngày; có thể bị nổi ban lại một lần nữa vào những ngày sau đó.

Khi đã phục hồi, cơ thể sẽ miễn dịch chống lại bệnh, tuy nhiên chỉ có thể kháng lại type virus đã gây ra bệnh thôi do có 04 type virus khác nhau, có nghĩa là vẫn có khả năng bị nhiễm lại bởi type khác. Điều quan trọng là phải xác định các dấu hiệu mắc bệnh và điều trị kịp thời và đúng cách.

3.2. Sốt xuất huyết có chảy máu

Các dấu hiệu sốt xuất huyết dạng này bao gồm tất cả các triệu chứng của bệnh sốt xuất huyết nhẹ kèm theo tổn thương mạch máu và mạch bạch huyết, chảy máu cam, chảy máu ở nướu răng hoặc dưới da, gây ra vết bầm tím.

Thể bệnh này có thể dẫn đến tử vong.

3.3. Sốt xuất huyết Dengue (hội chứng sốc Dengue)

Thể bệnh này là dạng nặng nhất của bệnh sốt xuất huyết - bao gồm tất cả các biểu hiện của bệnh sốt xuất huyết nhẹ cộng với các triệu chứng chảy máu, kèm theo huyết tương thoát khỏi mạch máu, chảy máu ồ ạt trong và ngoài cơ thể, tiền sốc/sốc (hạ huyết áp, kẹp).

Sốt xuất huyết Dengue thường xảy ra trong lần nhiễm trùng sau, khi đã có miễn dịch chủ động (do đã từng mắc bệnh) hoặc thụ động (do mẹ truyền sang) đối với một loại kháng nguyên virus. Bệnh thường biểu hiện nặng đột ngột sau 2 đến 5 ngày (giai đoạn hạ sốt).

Dạng này của bệnh thường xảy ra ở trẻ em (đôi khi ở người lớn); có thể gây tử vong, đặc biệt là ở trẻ em và thanh thiếu niên.

Các yếu tố sau đây làm tăng khả năng mắc sốt xuất huyết thể nặng: sinh sống hoặc đi du lịch ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới sẽ làm tăng nguy cơ tiếp xúc với virus gây bệnh sốt xuất huyết. Đặc biệt là các khu vực có nguy cơ cao là khu vực Đông Nam Á, các đảo tây Thái Bình Dương, châu Mỹ Latinh và vùng Caribê; người đã từng nhiễm sốt xuất huyết trước đây thì khi nhiễm lại, các triệu chứng sẽ nặng hơn và nguy hiểm hơn; trẻ dưới 12 tuổi; hụ nữ và người da trắng.

4. Chẩn đoán sốt xuất huyết

Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh sốt xuất huyết có thể dễ dàng gây nhầm lẫn với những bệnh khác như bệnh sốt rét, bệnh do leptospira và sốt thương hàn... .

Chẩn đoán Sốt xuất huyết Dengue thường dựa vào các yếu tố dịch tễ, biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng:

- Yếu tố dịch tể

Sinh sống hoặc đi du lịch qua vùng có dịch bệnh sốt xuất huyết lưu hành.

- Biểu hiện lâm sàng

Sốt cao, đột ngột, liên tục. Không đáp ứng hoặc đáp ứng kém với các thuốc hạ sốt thông thường.

Đôi khi có gan to, tức hạ sườn phải. Thường hay gặp đau bụng ở trẻ em đau vùng gan.

Có thể buồn nôn và ói mửa. Một số trường hợp có rối loạn tiêu hoá nôn ỉa lỏng bụng chướng.

Xuất huyết: thường gặp ở ngày thứ 4 đến ngày thứ 7 của bệnh với dấu hiệu dây thắt (+) hoặc xuất huyết tự nhiên (tử ban, chảy máu cam, chân răng, xuất huyết dưới kết mạc mắt ít gặp hơn); nặng hơn bệnh nhân xuất huyết phủ tạng, phổ biến là xuất huyết tiêu hoá (nôn hoặc tiêu ra máu...), sau đó là xuất huyết tiết niệu, hô hấp, xuất huyết não, màng não… phụ nữ thường gặp.

- Cận lâm sàng

+ Giảm tiểu cầu (< 100.000/mm³): cần làm số lượng tiểu cầu ở bất kỳ bệnh nhân nào nghi ngờ sốt xuất huyết dengue. Tiểu cầu càng giảm, nguy cơ xuất huyết càng cao.

+ Hematocrit: Đây là một tiêu chuẩn chẩn đoán sốt xuất huyết dengue.

Khi giá trị hematocrit tăng trên 20% so với trị số bình thường trước đó thì bệnh nhân được coi là có cô đặc máu.

Nếu không biết được giá trị hematocrit bình thường của bệnh nhân thì có thể xem giá trị > 45% là mốc chẩn đoán.

+ Chẩn đoán nguyên nhân bằng phương pháp phân lập virus, xác định kháng nguyên virus bằng các phương pháp miễn dịch hoặc phát hiện bộ gene của virus bằng kỹ thuật khuyếch đại chuỗi DNA (PCR).

+ Chẩn đoán huyết thanh học thông qua phương pháp xác định IgM bằng kỹ thuật hấp phụ miễn dịch gắn kết enzyme (MAC-ELISA) ở hai mẫu máu bệnh nhân lấy cách nhau 14 ngày. Mẫu máu thứ nhất lấy trước ngày thứ 7 của bệnh.

Ngoài ra, cần thiết làm các xét nghiệm điện giải đồ; khí máu; chức năng đông máu; men gan; X-quang phổi nhằm phát hiện biến chứng tràn dịch phổi.

5. Phân độ sốt xuất huyết Dengue

Theo qui định của tổ chức y tế thế giới sốt xuất huyết Dengue chia thành 4 độ: Sốt xuất huyết Dengue độ I, độ II, độ III và độ IV (độ III và độ IV là sốt xuất huyết Dengue có sốc: Dengue Shock Sydrom - DSS).

Độ I: Sốt + dấu hiệu dây thắt (+), không có xuất huyết tự nhiên.

Độ II : Sốt + xuất huyết tự nhiên dưới da hoặc niêm mạc.

Độ III: Như độ I, II + mạch nhanh nhỏ huyết áp kẹt hoặc tụt, da lạnh, bứt rứt vật vã.

Độ IV : Sốc sâu, huyết áp không đo được, mạch không bắt được.

* Lưu ý: Diễn biến bệnh không theo thứ tự từng độ của bệnh, có thể chuyển đột ngột từ độ I sang độ III hoặc IV (điều này hết sức nguy hiểm).

Sốt xuất huyết Dengue độ III (thể tiền sốc): thường gặp ở ngày thứ 3-7 của bệnh, đặc biệt giai đoạn giảm/hết sốt: mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt. Cần phát hiện các dấu hiệu tiền sốc để xử trí kịp thời, có 5 dấu hiệu tiền sốc: vật vã hoặc li bì, đau bụng dữ dội, lạnh đầu chi, xung huyết da và đái ít. Một số các dấu hiệu tiền sốc khác có giá trị xuất huyết phủ tạng và xuất huyết niêm mạc nhiều tăng thêm da xung huyết nhưng tay chân lạnh dấu hiệu “ấn ngón tay” kéo dài…

Sốt xuất huyết Dengue độ IV (thể sốc): thường gặp ở ngày thứ 3-7 của bệnh, đặc biệt giai đoạn giảm/hết sốt, huyết áp tụt hoặc không đo được; da lạnh nhớp nháp mồ hôi, mệt lả.

Sốc có tiên lượng xấu khi: Sốt cao, mạch nhanh, kèm theo xuất huyết phủ tạng kèm theo triệu chứng của não (hôn mê) sốc có thiểu vô niệu tiểu cầu giảm nặng, có rối loạn điện tâm đồ, có rối loạn đông máu nặng, tổn thương gan nặng, có đông máu nội mạch( DIC ) có rối loạn điện giải …sốc ở trẻ em thường nặng hơn ở người lớn.

6. Điều trị sốt xuất huyết

- Không có phương pháp điều trị đặc hiệu cho bệnh sốt xuất huyết.

- Đối với các thể bệnh sốt xuất huyết nhẹ, có thể điều trị tại nhà uống nước đầy đủ bằng Dịch uống: ORESOL (Nal3,5g + Trisodium xitrat 2,9 g + KCL 1,5g + Glucose 20g) pha với 1 lít nước sôi để nguội; sử dụng thuốc giảm sốt (tránh dùng các thuốc hạ sốt, giảm đau có khả năng làm tăng biến chứng chảy máu chẳng hạn như aspirin, ibuprofen và naproxen sodium... .) và bổ sung Vitamin C, P, Rutin, thuốc kháng Histamin... theo hướng dẫn của bác sĩ. Hầu hết ở thể nhẹ, bệnh thường tự khỏi trong vòng 2 tuần.

- Đối với những trường hợp nặng hơn, bệnh sốt xuất huyết có thể gây sốc hoặc chảy máu và dẫn đến tử vong. Điều quan trọng là theo dõi sát sao để phát hiện sớm các dấu hiệu chuyển nặng (tiển sốc), điều trị kịp thời tránh những biến chứng nặng có thể xảy ra.

Nghỉ ngơi tại giường, uống nhiều nước.

Hạ sốt.

Cân bằng nước, điện giải.

Phát hiện và xử trí sớm sốc: dịch truyền, dung dịch cao phân tử, thuốc vận mạch,...

Xử trí tốt mọi xuất huyết, truyền máu tươi khi xuất huyết phủ tạng nặng.

Nuôi dưỡng, săn sóc hộ lý tốt bệnh nhân, điều trị hỗ trợ, nâng đỡ khác.

7. Phòng bệnh sốt xuất huyết

Hiện, chưa có vaccine để phòng ngừa bệnh sốt xuất huyết Dengue.

Sốt xuất huyết là bệnh nguy hiểm, bất cứ chúng ta ai cũng có thể mắc bệnh. Mỗi khi dịch bùng phát, rất nhiều người mắc bệnh và tử vong và hao tốn rất nhiều chi phí y tế. Do bệnh lây truyền qua đường muỗi đốt nên người dân hoàn toàn có thể phòng, chống bệnh thông qua việc giảm số lượng muỗi/lăng quăng. Nên nhớ rằng không có muỗi/lăng quăng thì không có sốt xuất huyết. Vì vậy, mỗi người chúng ta hãy cố gắng có ý thức phòng ngừa bệnh.

Nguyên tắc phòng bệnh sốt xuất huyết là Phòng chống véc tơ truyền bệnh là chiến lược kiểm soát và ngăn chặn sự lan truyền vi rút gây bệnh sốt xuất huyết. Bao gồm:

- Cách tốt nhất phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue là không để muỗi đốt, ngủ màn, sử dụng chất diệt côn trùng thích hợp (xoa thuốc).

- Hạn chế du lịch đến một số nước đang có dịch sốt xuất huyết.

- Hạn chế đi ngoài trời lúc bình minh, hoàng hôn và buổi tối.

- Mặc quần áo phủ kín (áo sơ mi dài tay, quần dài, vớ và giày...). Nên thoa kem chống muỗi ở các vùng da không được quần áo che chắn như cánh tay, mặt, chân và cổ.

- Cải thiện và quản lý môi trường sống ngăn chặn không để muỗi đẻ trứng, mọi người hãy tự giác làm vệ sinh nơi mình sinh sống, thường xuyên dọn dẹp các dụng cụ chứa nước để ngoài trời, vũng ao tù, nước đọng, lu khạp, bình bông, vỏ chai, gáo dừa, lốp xe cũ..., thả cá 7 màu vào các hồ/bể cá để không tạo điều kiện cho muỗi phát triển.

- Luôn luôn phải giữ gìn và vệ sinh sạch sẽ không gian sống xung quanh. Đây là cách tốt nhất giúp tránh được muỗi và các loại vi khuẩn gây bệnh.

- Sử dụng hóa chất diệt côn trùng phun không gian là một trong những biện pháp kiểm soát véc tơ trong các vụ dịch.

- Cộng đồng cung chung tay tham gia và duy trì sự kiểm soát véc tơ truyền bệnh (muỗi/lăng quăng), theo dõi và giám sát véc tơ cần phải được thực hiện thường xuyên để xác định các biện pháp phòng chống hiệu quả.

Bất cứ khi nào có triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh sốt xuất huyết, hãy đi đến khám tại cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị kịp thời./.

                                       Bs.CK II Đinh Ngọc Nhân

In nội dung
Các tin đã đăng ngày:
Select a date from the calendar.