Skip Ribbon Commands Skip to main content
Tìm kiếm
 

 Liên Kết Website

 

 Lượt truy cập:

 

 Nội dung bản tin

 
BỆNH DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG Cập nhật: 06-05-2019 12:44
Bệnh dịch tả lợn châu Phi (tên tiếng Anh là African swine fever - ASF) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, do vi rút gây ra. Bệnh có đặc điểm lây lan nhanh qua tiếp xúc trực tiếp mầm bệnh, gây bệnh ở mọi lứa tuổi và ở mọi loài lợn (cả lợn nhà và lợn hoang dã). Bệnh không lây sang người nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, với tỷ lệ chết cao lên đến 100%.
I. SƠ LƯỢC VỀ BỆNH DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI 
​     Bệnh dịch tả lợn châu Phi (tên tiếng Anh là African swine fever - ASF) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, do vi rút gây ra. Bệnh có đặc điểm lây lan nhanh qua tiếp xúc trực tiếp mầm bệnh, gây bệnh ở mọi lứa tuổi và ở mọi loài lợn (cả lợn nhà và lợn hoang dã). Bệnh không lây sang người nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, với tỷ lệ chết cao lên đến 100%.
       Bệnh dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) gây ra do một loại vi rút có sức đề kháng cao trong môi trường. Lợn khỏi bệnh có khả năng mang vi rút trong thời gian dài, có thể là vật chủ mang trùng và lây truyền bệnh suốt đời, do vậy khó có thể loại trừ được bệnh nếu để xảy ra bệnh DTLCP.

Vi rút DTLCP được tìm thấy trong máu, cơ quan, dịch bài tiết từ lợn nhiễm bệnh và lợn chết bởi bệnh này; có thể tồn tại trong chất tiết, dịch tiết, trong xác động vật, trong thịt lợn và các chế phẩm từ thịt lợn như xúc xích, giăm bông salami. Có khả năng chịu được nhiệt độ thấp, đặc biệt là trong các sản phẩm thịt lợn sống hoặc nấu ở nhiệt độ không cao, trong thời gian dài từ 3 - 6 tháng; sống trong máu đã phân hủy được 15 tuần; trong máu khô không được 70 ngày; trong phân ở nhiệt độ phòng được 11 ngày; thịt động lạnh 1.000 ngày; trong máu lợn ở nhiệt độ 4°C trong 18 tháng; trong thịt dính xương ở nhiệt độ 39°C được 150 ngày; trong giăm bông được 140 ngày và ở nhiệt độ 50°C tồn tại trong 3 giờ. Lợn sau khi khỏi bệnh sẽ ở thể mãn tính, có thể mang vi rút suốt đời.

Trong môi trường không có huyết thanh, , vi rút có thể sống được 21 giờ và có thể bị phá hủy ở pH < 3,9 hoặc ở pH > 11,5. Môi trường có huyết thanh, vi rút có thể tồn tại được ở pH = 13,4 trong 7 ngày. Vi rút có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56°C trong 70 phút hoặc ở 60°C trong 20 phút).

Hóa chất để diệt vi rút DTLCP bao gồm ether, chloroform và hợp chất iodine hoặc sử dụng sodium hydroxide với tỷ lệ 8/1.000 hoặc formalin với tỷ lệ 3/1.000 hoặc chất tẩy trắng hypochlorite chứa chlorine 2,3% hoặc chất ortho-phenylphenol 3% nhưng phải duy trì thời gian 30 phút.

Hóa chất diệt ve mềm (vật chủ trung gian): Sử dụng các loại hiện nay.

II. VỀ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ

- Đường lây truyền: Qua chất tiết, dịch tiết, chất thải, xác động vật, thịt lợn và các chế phẩm từ thịt lợn như xúc xích, giăm bông... . Con người và phương tiện vân chuyển là 02 yếu tố quan trọng làm lây lan bệnh trên diện rộng. Vi rút DTLCP lây nhiễm qua đường hô hấp và tiêu hóa, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các vật thể nhiễm vi rút như: chuồng trại, phương tiện vận chuyển, dụng cụ, đồ dùng, quần áo nhiễm vi rút và ăn thức ăn thừa chứa thịt lợn nhiễm bệnh hoặc bị ve mềm cắn (ve mềm thuộc chi Ornithodoros là một vector sinh học trong tự nhiên).

- Thời gian ủ bệnh 04-19 ngày; thể cấp tính thời gian ủ bệnh chỉ 03-04 ngày.

- Lợn nhà lợn rừng đều mắc bệnh. Lợn nuôi thả rông dễ mắc bệnh hơn (do tiếp xúc nhiều phân, nước tiểu).

- Bệnh xảy ra quanh năm. Mọi lứa tuổi của lợn đều có thể mắc bệnh.

III. BIỂU HIỆN BỆNH

- Sốt cao 41- 42 0c kéo dài liên tục 4 ngày với thể trạng bình thường.

- Sau đó lợn ủ rủ, lờ đờ, suy nhược, ho thở khó; run, dáng đi loạng choạng, nằm chồng lên nhau, lợn nái sảy thai.

         - Xuất huyết thâm tím ở tai, bẹn, bụng và mặt đùi sau, chân rồi hoại tử.
111111.png

- Đỏ ửng các vùng da, đỉnh tai, chân và chứng xanh tím.

222222.png 

- Xuất huyết dưới da, hoại tử trên bề mặt da.

33333.png 

- Máu chảy ra từ lỗ tự nhiên: mũi, miệng, hậu môn.

444444.png 

IV. BỆNH TÍCH

- Tim, cơ tim, vành tim xuất huyết.

555555.png 

- Lách sưng to, xuất huyết và nhồi huyết.

666666.png 

- Gan sưng to, xuất huyết.

777777.png 

- Phổi xuất huyết, khí quản phế quản chứa bọt.

888888.png 

- Dạ dày xuất huyết.

999999.png 

- Ruột non, ruột già xuất huyết

fgfdgdfgdfg.png 

- Thận xuất huyết

fdgsdgfs.png 

- Bàng quang phù xuất huyết

hfdhdghgd.png 

- Hạch lâm ba sưng, xuất huyết

fdgfdgfd.png 

V. CHẨN ĐOÁN

* Chẩn đoán lâm sàng

- Thể quá cấp tính (Peracute) là do vi rút có độc lực cao, lợn sẽ chết nhanh, không biểu hiện triệu chứng hoặc lợn sẽ nằm và sốt cao trước khi chết.

- Thể cấp tính (Acute) là do vi rút có độc lực cao gây ra, lợn sốt cao (40,5 - 42°C); trong 2 - 3 ngày đầu tiên, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu.

Lợn không ăn, lười vận động, ủ rũ, nằm chồng đống, lợn thích nằm chỗ có bóng râm hoặc gần nước; có biểu hiện đau vùng bụng, lưng cong, di chuyển bất thường, một số vùng da trắng chuyển sang màu đỏ, đặc biệt là ở vành tai, đuôi, cẳng chân, da phần dưới vùng ngực và bụng, có thể có màu sẫm xanh tím.

Trong 1 - 2 ngày trước khi con vật chết, có triệu chứng thần kinh, di chuyển không vững, nhịp tim nhanh, thở gấp, khó thở hoặc có bọt lẫn máu ở mũi, viêm mắt, nôn mửa, tiêu chảy đôi khi lẫn máu hoặc có thể táo bón, phân cứng đóng viên có kích thước nhỏ, có chất nhầy và máu.

Lợn sẽ chết trong vòng 6 - 13 ngày hoặc có thể kéo dài đến 20 ngày. Lợn mang thai có thể sẩy thai ở mọi giai đoạn. Tỷ lệ chết cao lên tới 100%. 

Lợn khỏi bệnh hoặc nhiễm vi rút thể mạn tính thường không có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang vi rút DTLCP trong suốt cuộc đời.

- Thể cấp tính (Subacute) gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình. Bệnh kéo dài 5 - 30 ngày, nếu máu ứ trong tim (cấp tính hoặc suy tim) thì lợn có thể chết, lợn mang thai sẽ sẩy thai, lợn chết trong vòng 15 - 45 ngày, tỷ lệ chết khoảng 30 - 70%. Lợn có thể khỏi hoặc bị bệnh mãn tính.

- Thể mãn tính (Chronic form) gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình hoặc thấp, chủ yếu được tìm thấy ở Angola và châu Âu. Triệu chứng kéo dài 2 - 15 tháng, có tỷ lệ chết thấp, lợn khỏi bệnh sau khi nhiễm vi rút gây nên bệnh sẽ trở thành dạng mãn tính.

* Chẩn đoán phân biệt DTLCP và dịch tả lợn cổ điển

DTLCP và dịch tả lợn cổ điển khó có thể chẩn đoán phân biệt nếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích. Vì vậy, trong mọi trường hợp, phải lấy mẫu xét nghiệm tại phòng thí nghiệm để xét nghiệm phát hiện mầm bệnh.

- Lấy mẫu máu lợn đang sốt trong giai đoạn đầu, máu được chống đông bằng bổ sung EDTA 0,5%.

- Lách, các hạch bạch huyết, hạch amidan bảo quản ở nhiệt độ 4°C.

- Huyết thanh từ động vật khỏi bệnh lấy mẫu trong vòng 8 - 21 ngày sau khi lợn nhiễm bệnh.  

V. GIẢI PHÁP PHÒNG BỆNH

Hiện chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh dịch tả lợn châu Phi vì vậy giải pháp phòng bệnh là chính, phát hiện và xử lý triệt để ổ dịch ngay từ khi ở phạm vi nhỏ và chưa lây lan.

Kiểm soát kiểm dịch nhập khẩu, kiểm soát vận chuyển lợn, sản phẩm từ lợn và chăn nuôi an toàn sinh học là các biện pháp chủ lực được các nước đã và đang áp dụng:

- Tăng cường sát trùng chuồng trại cả bên trong và bên ngoài chuồng trại, lối đi vào trại, nơi cân xe, khu vực xung quanh trạị, khu xử lý lợn chết…

- Cổng xuất và cổng nhập phải có hố sát trùng và máy phun thuốc sát trùng, mỗi đầu trại phải có khay/hố sát trùng và thay nước hàng ngày.

-Tiêu độc khử trùng ít nhất 2lần/tuần; thuốc có thành phần Iốt có tác dụng sát trùng hiệu quả.

- Phương tiện ra vào trại như xe tải bắt lợn, xe chuyển cám, xe 2 bánh,... cần phải được phun xịt sát trùng thật kỹ trước khi vào trại.

- Hạn chế nhân viên ra khỏi trại khi không cần thiết. Hạn chế tối đa người vào trại, khi vào phải qua nhà sát trùng, tắm xà phòng và có thời gian cách ly ít nhất 24h mới được xuống trại.

- Tăng cường chăm sóc đàn lợn chu đáo, phòng bệnh bằng vaccine đối với các bệnh do virus như: Dịch Tả, Tai Xanh (PRRS), Lở Mồm Long Móng, Giả Dại, Circovirus…tăng cường sức đề kháng cho lợn, có thể bổ sung thêm vitamin C, vitamin nhóm B, Beta glucan…

- Nhập lợn có nguồn gốc rõ ràng, phải có khu riêng nuôi cách ly lợn mới nhập, để tlợn dõi tình trạng sức khỏe, tuân thủ đúng quy trình nhập lợn. Giám sát tình hình sức khỏe toàn đàn lợn hàng ngày, để đưa ra giải pháp xử lý kịp thời nếu có nghi ngờ về bệnh này. Có biện pháp diệt côn trùng, chuột trong trại. Không cho chó, mèo, gà, vịt vào trại lợn,...

Bs CKI. Đinh Ngọc Nhân - Phòng Y tế

In nội dung
Các tin đã đăng ngày:
Select a date from the calendar.