Skip Ribbon Commands Skip to main content
Tìm kiếm
 

 Liên Kết Website

 

 Lượt truy cập:

 

 Nội dung bản tin

 
BỆNH THỦY ĐẬU VÀ CÁCH PHÒNG TRÁNH Cập nhật: 31-03-2017 01:11
Thủy đậu do một bệnh do loại vi rút mang tên Varicella Zoster Virus gây ra, thường bùng phát dịch vào các mùa trong năm. Hiện nay, bệnh thủy đậu đang có xu hướng gia tăng trong mùa xuân.


Ảnh minh họa​

I. NGUYÊN NHÂN

Thủy đậu do một bệnh do loại vi rút mang tên Varicella Zoster Virus gây ra, thường bùng phát dịch vào các mùa trong năm. Hiện nay, bệnh thủy đậu đang có xu hướng gia tăng trong mùa xuân.

Là bệnh rất dễ lây truyền qua đường hô hấp và qua tiếp xúc dịch tiết. Khi một người mang vi khuẩn thủy đậu nói, hắt hơi, chảy nước mũi hoặc ho... thì các vi khuẩn đó theo nước bọt, nước mũi bắn ra ngoài lẫn trong bụi. Người khác hít phải bụi đó sẽ lây bệnh.

Bệnh có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, đặc biệt ở trẻ nhỏ.

Cách điều trị bệnh thủy đậu chủ yếu là điều trị triệu chứng và điều trị đặc hiệu bằng kháng virus.

II. BIỂU HIỆN BỆNH:

- Giai đoạn khởi phát:

Khoảng 10 - 14 ngày sau khi xâm nhập vào cơ thể, người bệnh bắt đầu biểu hiện triệu chứng nhiễm thủy đậu.

Những ngày đầu tiên người bệnh có dấu hiệu sốt. Thường là sốt nhẹ và kéo dài trong một đến vài ngày bởi vậy người bệnh khá chủ quan. Trẻ nhỏ thường sốt nhẹ, biếng ăn còn người lớn bị sốt cao, đau đầu, đau cơ... .

- Giai đoạn toàn phát:

Sau 1-2 ngày mới xuất hiện các mụn bóng nước giữa các nến đỏ (nốt đậu), những mụn bóng nước này thường mọc ở thân mình, sau đó lan lên mặt và tay chân. Mụn nước có đường kính vài milimet, nhưng chỉ sau khoảng 1 ngày hay khi nhiễm thêm vi trùng mụn nước sẽ có màu đục chứa mủ, nếu bị nặng, mụn nước sẽ to hơn. Khi mụn nước lên nhiều, người bệnh sẽ cảm thấy ngứa ngáy, khó chịu, kèm theo là sốt nhẹ, biếng ăn, nôn ói. Nốt đậu nổi nhiều là dấu hiệu cảnh báo bệnh có thể diễn tiến nặng.

Sau 2-3 ngày nữa, các mụn sẽ đóng vẩy. Các vẩy đó sẽ rụng dần và nếu không có biến chứng gì thì sẽ không để lại sẹo.

- Giai đoạn hồi phục:

Khi nốt đậu mọc thì thường người bệnh giảm sốt và tổn thương bóng nước khô dần rồi tự bong vẩy vài ngày sau đó nhưng để lại sẹo mờ trên da sau vài tuần mới hết hẳn. Thông thường bệnh diễn biến kéo dài khoảng 2 tuần.

III. BIẾN CHỨNG:

Thủy đậu ở trẻ em ẩn chứa những nguy cơ gây biến chứng. Các biến chứng này có thể từ nhẹ là nhiễm trùng da đến những biến chứng nguy hiểm như nhiễm trùng huyết, viêm phổi, viêm não. Trong đó đáng lo ngại là viêm não để lại di chứng thần kinh điếc, động kinh, chậm phát triển, các biến chứng nguy hiểm của cần lưu ý:

1. Nhiễm trùng tại các nốt đậu:

Khi nốt đậu bị vỡ hoặc trầy xước, có thể gây viêm tấy, nhiễm khuẩn da gây viêm mủ da, chốc lở, thậm chí gây viêm cầu thận cấp... Nếu không chữa trị kịp thời, tổn thương sẽ ăn sâu, lan rộng, để lại nốt sẹo rỗ gây mất thẩm mỹ, nặng hơn còn dẫn đến viêm mô tế bào, nhiễm trùng máu.

2. Viêm phổi:

Biến chứng thường gặp ở người lớn hơn là trẻ em và thường xuất hiện vào ngày thứ 3-5 của bệnh.

Biểu hiện sốt cao, thở nhanh, khó thở, tím tái, đau ngực, ho ra máu, đây là biến chứng rất nguy hiểm, bệnh nhân có thể tử vong.

3. Viêm não:

Bệnh thủy đậu có thể gây biến chứng viêm màng não vô khuẩn đến viêm não, thường gặp ở người lớn, tỉ lệ tử vong chiếm 5-20%. Ngay cả khi được cứu sống vẫn có thể để lại di chứng nặng nề hoặc phải sống đời thực vật.

4. Biến chứng với phụ nữ mang thai:

Với các bà mẹ mang thai, nhiễm thủy đậu có khả năng dẫn đến biến chứng viêm phổi. Thai phụ bị thuỷ đậu là đối tượng có nguy cơ tử vong cao nhất, lên đến 40%. Đặc biệt, nếu nhiễm thuỷ đậu vào 3 tháng đầu của thai kỳ, người mẹ dễ bị sẩy thai:

- Mẹ mắc bệnh thủy đậu khi mang thai dưới 20 tuần sinh con ra sẽ có một tỉ lệ nhỏ (khoảng 2%) bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh với các biểu hiện: sẹo da, nhẹ cân, các bệnh về mắt (đục thủy tinh thể, tổn thương võng mạc...), tay chân ngắn, đầu bé, chậm phát triển tâm thần...`

- Nếu mẹ mắc thủy đậu trước sinh trên 1 tuần diễn biến lành tính, khi sinh trẻ có kháng thể.

- Nếu mẹ mắc thủy đậu từ 5 ngày trước sinh đến 2 ngày sau khi sinh, trẻ sinh ra dễ mắc bệnh thủy đậu chu sinh và có tỉ lệ tử vong cao (khoảng 30%).

IV. ĐIỀU TRỊ

Hiện chưa có thuốc đặc trị bệnh mà cách điều trị bệnh thủy đậu tùy thuộc vào sự phát hiện bệnh sớm trong 24 giờ đầu. Cần cho người bệnh đi khám bệnh ngay. Căn cứ vào tình trạng bệnh, bác sĩ sẽ cho điều trị nội trú hoặc điều trị tại nhà.

Điều quan trọng nhất trong điều trị, chăm sóc bệnh nhân thủy đậu làm sạch da và vệ sinh thân thể; cho người bệnh nằm nghỉ trong phòng thoáng mát, sạch sẽ; ăn uống các chất dễ tiêu; chú ý cắt ngắn móng tay và giữ sạch tay, trẻ nhỏ phải cho mang bao tay, xoa bột tan (tale) vô khuẩn hoặc phấn rôm để trẻ đỡ ngứa; tắm rửa bằng các dung dịch sát khuẩn; ránh cọ xát làm các bóng nước bị vỡ.

1. Điều trị triệu chứng:

- Tại chỗ nốt đậu dập vỡ nên chấm dung dịch xanh metylen.

- Chống ngứa để bệnh nhân đỡ cào gãi bằng các thuốc kháng histamin như: chlopheniramin, loratadine… 

- Khi bệnh nhân đau và sốt cao, có thể cho dùng acetaminophen. Không bao giờ được dùng aspirin hoặc những thuốc cảm có chứa aspirin cho trẻ em do nguy cơ xảy ra hội chứng Reye (một bệnh chuyển hoá nặng gồm tổn thương não và gan dẫn đến tử vong).

- Mỗi ngày 2-3 lần nhỏ mắt, mũi thuốc sát khuẩn như chloramphenicol 0,4% hoặc acgyrol 1%.

- Khi nốt phỏng vỡ, chỉ nên bôi thuốc xanh metilen; không được bôi mỡ tetraxiclin, mỡ penixilin hay thuốc đỏ.

2. Điều trị bệnh bằng thuốc kháng virus

- Trong vòng 24 giờ đầu khi xuất hiện nốt đậu dùng kháng sinh chống virut loại acyclovir để giúp rút ngắn thời gian và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Liều lượng phụ thuộc lứa tuổi hoặc cân nặng (đối với trẻ nhỏ).

- Trường hợp nặng hơn hoặc có biến chứng như viêm màng não, trẻ suy giảm miễn dịch, có thể dùng acyclovir đường tĩnh mạch. 

- Tuân thủ chỉ định dùng thuốc của bác sĩ. Không tự ý dùng thuốc hoặc nghe lời mách bảo mà dùng thuốc sai lầm, dẫn đến thủy đậu bội nhiễm nặng.

Giai đoạn vừa mới lành bệnh, cần phải tuyệt đối chống nắng và tránh cào gãi gây trầy xước. Bổ sung đầy đủ các vitamin và yếu tố vi lượng cho da thông qua chế độ ăn hoặc thuốc uống; giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ và nghỉ ngơi.

V. CÁCH PHÒNG BỆNH

1. Tiêm ngừa vắc xin:

Tiêm vắc xin là cách tốt nhất phòng bệnh Thủy đậu.  Hiệu quả bảo vệ sau tiêm đạt 95% – 97% với độ an toàn rất cao (chỉ khoảng 5% người chủng ngừa bị sốt nhẹ sau tiêm)

* Những đối tượng cần được tiêm ngừa:

- Thanh niên và những người trưởng thành đang sống chung với trẻ em.

- Nhân viên y tế.

- Những gia đình hay tiếp xúc với người suy giảm miễn dịch ví dụ như: người mắc bệnh AIDS, người đang được hóa trị, người đang uống prednisone hay những loại thuốc corticoid khác.

- Những người hay đi đây đi đó khắp thế giới.

- Phụ nữ đang trong độ tuổi sinh đẻ không mang thai

- Những người sống hay làm việc trong một môi trường dễ lây truyền bệnh (cô giáo dạy trẻ, thành viên hay người quản lý của các tổ chức tập thể, sinh viên đại học)

Lịch tiêm:

- Đối với trẻ từ 1 - 12 tuổi: tiêm một liều duy nhất 0,5ml.

- Đối tượng từ 13 tuổi trở lên: tiêm 2 liều, cách nhau từ 6 - 10 tuần. Nếu để quá thời gian kể từ lúc tiêm lần 1 thì vẫn có thể tiêm tiếp lần 2 mà không cần lặp lại lần 1.

Lưu ý khi tiêm chủng:

- Việc chủng ngừa thủy đậu không chỉ cần tiến hành với trẻ em, là đối tượng chính của bệnh này, mà còn ở cả người lớn. Những người lớn khi mắc bệnh cũng gặp nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí còn nặng hơn cả trẻ nhỏ nên chích ngừa là hoàn toàn cần thiết.

Phụ nữ trước khi có ý định mang thai từ 2-3 tháng cần đi tiêm vắc xin để bảo vệ sức khỏe cả mẹ và bé.

- Không tiêm vắc xin thủy đậu khi đang sốt hoặc bị bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, người mẫn cảm với các thành phần của vắc xin, người bị thiếu hụt miễn dịch bẩm sinh hoặc mắc phải, phụ nữ đang mang thai.

- Trong khi dịch bệnh có mặt ở khắp nơi thì cách ly với nguồn bệnh là một biện pháp an toàn giúp ngăn chặn lây lan. Không nên đưa trẻ đến những nơi có nguồn bệnh hoặc nguy cơ lây nhiễm cao như bệnh viện. Không nên đến những chỗ đông người như bến xe, bến tàu. Trong trường hợp bắt buộc phải đến những nơi kể trên cần đeo khẩu trang y tế, vệ sinh sạch sẽ bằng xà phòng diệt khuẩn ngay sau đó.

Ngoài ra, bố mẹ cần đảm bảo cho trẻ ăn uống đầy đủ dưỡng chất, nâng cao sức đề kháng, vệ sinh cơ thể, giữ tay sạch sẽ, tránh nguồn lây bệnh.

Bố mẹ cũng có thể tăng cường hệ miễn dịch cho bé bằng cách cho bé sử dụng các loại thực phẩm chức năng giúp nâng cao sức đề kháng và hệ thống miễn dịch. Ưu điểm của những loại thực phẩm chức năng này là bổ sung đầy đủ các loại vitamin và khoáng chất thiết yếu mà thức ăn hàng ngày chưa cung cấp đủ. Qua đó giúp hình thành và củng cố hệ thống miễn dịch khỏe mạnh, chống chọi lại với các loại dịch bệnh lây lan trong thời điểm nắng nóng, giao mùa.

* Đối tượng không nên tiêm ngừa bệnh thủy đậu

- Những người dị ứng với gelatin hay neomycin.

- Những người đang bị bệnh lao chưa được điều trị.

- Những người suy giảm miễn dịch: người nhiễm HIV, người đang uống các loại thuốc làm suy giảm miễn dịch chẳng hạn như corticoid, người mắc những bệnh gây suy giảm miễn dịch.

- Phụ nữ đang mang thai.

- Những người đã được truyền globulin miễn dịch hay các chế phẩm của máu trong vòng 5 tháng trước đó.

2. Cách xử lý khi mắc bệnh

Khi bị bệnh cần cách ly và sử dụng các vật dụng cá nhân riêng để tránh lây lan cho người khác. Nên vệ sinh mũi họng hàng ngày cho con bằng nước muối sinh lý.

Để bệnh thủy đậu nhanh chóng được cải thiện, người bệnh tuyệt đối không được gãi hay làm vỡ các nốt thủy đậu. Để hạn chế khả năng này có thể xảy ra khi không kiềm chế được, bạn nên cắt hết móng tay, giữ cho da luôn khô và sạch đồng thời cũng nên mặc các loại quần áo mềm mại để tránh cọ sát vào da. Những nốt thủy đậu khi bị vỡ không chỉ để lại sẹo xấu mà còn làm lan nhanh mụn sang những vùng da khác.

Khi bị thủy đậu, người bệnh tuyệt đối không nên ăn một số loại thực phẩm như hải sản, thịt gà, thịt vịt và thịt bò. Thay vào đó nên ăn các loại thức ăn lỏng nhưng vẫn phải đảm bảo đủ calo và chất dinh dưỡng cho cơ thể khỏe mạnh và tăng sức đề kháng.

Theo các chuyên gia, những người bị thủy đậu nên kiêng nước và gió để tránh làm cho các chất bẩn trên da đi qua các vết loét và thấm sâu gây nhiễm trùng da. Vì vậy, khi bị bệnh, bạn chỉ nên sử dụng nước ấm và khăn mềm để lau người cho sạch và cần lưu ý khi lau rửa phải nhẹ nhàng, tránh tác động mạnh đến các nốt thủy đậu gây vỡ và nhiễm trùng. Sau khi lau, bạn nên sử dụng khăn mềm để thấm khô người.

Khi thấy người bệnh có các biểu hiện bất thường như sốt cao liên tục, lơ mơ, co giật... cần đưa ngay tới cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Đinh Ngọc Nhân 

In nội dung
Các tin đã đăng ngày:
Select a date from the calendar.